Men gốm là gì? Các loại men gốm phổ biến hiện nay

Nếu như một tác phẩm gốm đẹp hay không phụ thuộc phần lớn vào đôi bàn tay của người nghệ nhân thì men gốm chính là yếu tố quan trọng tạo nên một tuyệt tác hoàn mỹ. Vậy men gốm là gì và có những loại men phổ biến nào? Hãy đọc bài viết dưới đây của Sàn Gốm để biết thêm thông tin nhé.

men-gom-la-gi

Men gốm là gì?

Men gốm là một lớp thủy tinh bọc xung quanh của bề mặt xương gốm, thường có độ dày từ 0.15 – 0.4 mm.

Các mảnh gốm để thử men
Các mảnh gốm để thử men

Nó được chế tạo bằng cách trộn các nguyên liệu khoáng (như fenspat, thạch anh, cao lanh và nguyên liệu hóa học) theo một tỷ lệ nhất định rồi nghiền mịn chúng thành chất lỏng sền sệt, nhúng lên bề mặt thân xương gốm, rồi nung ở nhiệt độ cao.

thử màu men gốm
+ 1,5% cacbonat đồng, + 0,5% cacbonat coban
+ 3% Mangan Dioxit
+ 3% Red Iron Oxide, +0.5% Cobalt Carbonate
+ 3% Red Iron Oxide, +0.5% Cobalt Carbonate
Một mẫu thử với màu men gốm tuyệt đẹp
Một mẫu thử với màu men gốm tuyệt đẹp

Men gốm là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng và độ bền đẹp của một sản phẩm gốm sứ sau khi nung. Lớp men gốm có các tính chất vật lý và hóa học tương tự như thủy tinh. Bề mặt cứng hơn không thấm nước, mịn và sáng bóng, không dễ bám bẩn. Có thể cải thiện độ bền cơ học, độ bền nhiệt và tính chất hóa học của sản phẩm.

Tuy nhiên công thức làm men gốm độc đáo hay kỹ thuật phối hợp các nguyên vật liệu với nhau, nung ở nhiệt độ nào là bí quyết của từng nhà sản xuất và kinh nghiêm của họ trong nhiều năm thử nghiệm. Với nhiều gia đình, các bài men gốm quý là bảo vật gia truyền và không được truyển ra ngoài.

 

men-gom-la-gi
Quá trình tráng men gốm

Đặc điểm của men gốm

Mặc dù bản chất của men gốm là thủy tinh, nhưng nó vẫn có những đặc trưng rất riêng.

Khả năng chảy lỏng

Men sẽ có khả năng chảy lỏng đồng nhất ở một mức nhiệt xác định. Đây được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu để giúp lớp men dễ dàng phủ khắp toàn bộ bề mặt của một sản phẩm gốm. Khả năng chảy men không ổn định dễ gây ảnh hưởng đến bề mặt men. Ngược lại, khi lớp men được chảy đều, chất lượng và độ bền của sản phẩm cũng được ổn định hơn.

Hệ số giãn nở nhiệt

Nhiệt của men và xương gốm phải đảm bảo tương ứng. Nếu không đạt được tiêu chí này do chênh lệch giữa 2 hệ số sẽ rất dễ dẫn đến hiện tượng co men, nứt. Hoặc thậm chí là vỡ nổ trong quá trình nung và làm nguội.

Thành phần hóa học

Theo nghiên cứu, men chủ yếu bao gồm bốn chất hóa học: chất nền, chất tạo màu, chất trợ dung và chất phụ. Trong thành phần của hầu hết các loại men, hàm lượng silic điôxít chiếm hơn 50%.

Ly sứ đã tráng men trước khi nung
Ly sứ đã tráng men trước khi nung

Muốn xương gốm an toàn phải đảm bảo thành phần hóa học trong men gốm. Bởi trong quá trình nung, thành phần hóa học cao rất dễ xảy ra hiện tượng gây nứt, vỡ sản phẩm.

Bề mặt ổn định

Bề mặt men không ổn định sẽ dẫn đến tình trạng bề mặt sản phẩm cũng bị ảnh hưởng theo. Một lớp men gốm tốt sẽ cho ra một sản phẩm tốt với bề mặt đẹp hơn sau khi nung.

Nguyên liệu làm men gốm

nguyen-lieu-lam-men-gom
Nguyên liệu làm men gốm

Vậy nguyên liệu làm men gốm là gì? Nguyên liệu chế tạo men gốm khá phức tạp. Các thành phần tạo men thường là các tạp chất chứa nhiều oxi như Na2O, K2O, Li2o, ZnO… Dưới trạng thái sau đây:

  • Trạng thái dẻo quen thuộc như đất sét, cao lanh, bentonite…
  • Các nguyên liệu ở trạng thái khoáng như đá vôi, trường thạch, cát…
  • Dạng chất công nghiệp và không dẻo như Na2CO3, K2CO3, BaCO3, Borax (hàn the)…

Theo đó, từng loại men gốm khác nhau được sử dụng các thành phần khác nhau. Để tạo nên sự đa dạng trong sắc màu và phần bề mặt sản phẩm gốm theo mong muốn của những người thợ thủ công.

Sản phẩm hoàn thiện trước khi vào lò nung
Sản phẩm hoàn thiện trước khi vào lò nung

Lợi ích của việc sử dụng men gốm

Việc tráng men làm cho bình gốm giúp nó giữ được chất lỏng, màu sắc đa dạng hơn. Qua đó người nghệ nhân thể hiện được nhiều hơn.Các mẫu Men gốm thông dụng

Men gốm có thể được nhúng, quét, hoặc phun lên bề mặt xương gốm. Tùy theo dày mỏng khác nhau tạo thành màu sắc, hoa văn theo mong muốn của người thợ.

Việc xác định nước men cũng là một phần quan trọng trong việc xác định đồ gốm cổ. Nó đại khái bao gồm việc xác định các đặc tính của men và phương pháp tráng men.

Các loại men gốm chính

Men chảy

Men chảy thường được nghệ nhân sử dụng trang trí trên các sản phẩm gốm mịn. Đặc tính của lớp men nền và men phủ có sự khác nhau.

Khi nung ở nhiệt độ cao, men phủ bao quanh lớp nền tạo cho bề mặt sự kết tinh và màu sắc cho từng mảng. Khi pha thêm men cùng khoảng 25% chất trợ chảy PbO.SiO2 và một lượng chất tạo màu hoặc oxit màu sẽ tạo ra được lớp men này.

men-gom-la-gi
Lọ hoa gốm sứ men chảy

Men sần

Men sần được tạo ra bằng cách thêm vào lớp men bóng một số loại oxit khó chảy hay oxit màu. Ví dụ như Cr2O3, TiO2, CuO, Fe2O3 với một lượng khoảng 10% đến 30% hoặc SnO2 khoảng 10%. 

Khi được nung ở mức nhiệt độ thích hợp, các chất này sẽ phân bố đều khắp bề mặt men gốc nhưng không bị tan lẫn. Khi nguội, các phần tử này sẽ tạo nên một lớp sần sùi và có mặt ngoài nhám.

lo-hoa-men-san
Lọ hoa men sần

Men lam

Là loại men xuất hiện “đời đầu” ở làng gốm Bát Tràng vào khoảng thế kỷ 14. Nguyên liệu chủ yếu bao gồm cao lanh, hạ triểu, trường thạch… Cùng với đó là các loại đá màu được nghiền nhỏ trong khoảng 70 – 80 tiếng liên tục.

Men lam được nung ở nhiệt độ 1200 – 1300 độ C. Loại men này thường được các nghệ nhân vẽ trang trí trên bề mặt của các loại bát đĩa, lư hương, ấm chén, chân đèn dầu…

binh-hut-loc-men-lam
Bình hút lộc men lam

Men nâu

Men nâu là loại men sử dụng đầu tiên ở làng nghề gốm sứ Bát Tràng. Dù ở thời điểm hiện đại, nhiều người vẫn hướng về tự nhiên và yêu thích nét văn hóa hoài cổ. Vậy nên, sắc nâu dân dã vẫn được sử dụng rộng rãi trong những thiết kế nội thất làm bằng gỗ.

Bên cạnh đó, loại men này còn được lấy cảm hứng giao thoa giữa nét hiện đại và cổ kính trong nhiều tổng thể kiến trúc. Không bóng bẩy như các loại men khác, men nâu cho cảm giác hơi sần, thô và mộc mạc. Đây trở thành nét khác biệt khiến nhiều người yêu thích loại men đặc biệt này.

tháp-men-hoàng-lưu-ly-hoa-nâu
Tháp men nâu cổ

Men rêu

Nguyên liệu men rêu khá giống với men lam. Nhưng phải kết hợp thêm nhiều loại đá với nhiều sắc màu khác nhau mới tạo nên sắc xanh rêu đặc trưng.

Men rêu xuất hiện vào khoảng thế kỷ 14. Được nung ở mức nhiệt 1200 – 1300 độ C. Loại men này thường được sử dụng trong trang trí họa tiết cho nhiều sản phẩm. Bao gồm đế long đình, ngói, gạch thông gió, vẽ mây… Men rêu khi được pha đúng tỷ lệ và đúng cách sẽ tạo nên màu sắc vô cùng đẹp mắt và tinh tế.

men-gom-la-gi
Bộ bát đĩa men rêu

Men rạn

Men rạn là loại men được tạo ra do sự chênh lệch của độ co giữa xương gốm và men. Xuất hiện từ khoảng thế kỷ 16 tại các lò gốm Bát Tràng.

Với nguyên liệu chính là đá trường thạch, đá vôi… nghiền nhỏ được phủ lên toàn bộ bề mặt sản phẩm rồi đun ở nhiệt độ khoảng 1100-1200 độ C.

Sau đó được đánh bởi nước củ nâu (ngày nay thường dùng thuốc tím). Sau khi ngấm sẽ làm nổi lên những khe rạn trên bề mặt. Đây là loại men vô cùng nổi tiếng của người dân Bát Tràng với những chiếc lư hương, vò, bình vôi, lọ, nghê thời Lý, Trần được người sưu tầm đồ cổ săn lùng, tìm kiếm.

men-gom-la-gi
Bộ ấm chén men rạn Bát Tràng

Xem thêm: Đặc điểm và vai trò của đồ gốm men rạn trong phong thủy và thờ cúng

Men ngọc

Men ngọc là màu xanh khi pha trộn giữa FeO và Fe2+. Có thể bị khử một phần về Fe. Trên thực tế, màu sắc của men ngọc thường ở nhiều trạng thái. Từ lục xám nhẹ đến lục ngả vàng.

Do đó, nghệ nhân phải tạo trước chất màu của men ngọc. Sau đó mới tiến hành phun màu ngọc lên bề mặt sản phẩm và tráng thêm một lớp men trong mới.

men-gom-la-gi
Bộ đồ thờ men ngọc

Nhiệt độ nóng chảy của gốm sứ?

Nhiệt độ nóng chảy của men gốm sứ phụ thuộc thành phần phối liệu và các ôxít có mặt trong men. Nhiệt độ nóng chảy của men sẽ thay đổi nếu như có một yếu tố thay đổi, nhưng một số yếu tố sau sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn, đó là:

  • Thay đổi tỷ lệ ôxít kiềm/SiO2 (tỷ lệ càng lớn, nhiệt độ men càng giảm)
  • Thay đổi hàm lượng Al2O3 (tăng Al2O3, nhiệt độ nung sẽ tăng)
  • Bản chất các ôxít kiềm (thí dụ đưa vào frit silicat kiềm men sẽ dễ chảy hơn là đưa SiO2 và kiềm)
  • Hàm lượng các ôxít kiềm càng lớn, nhiệt độ càng giảm
  • Phụ thuộc tỷ lệ B2O3/SiO2 (tỷ lệ càng lớn, nhiệt độ men càng giảm)
  • Phụ thuộc độ nghiền mịn của men, men càng mịn, nhiệt độ nóng chảy càng giảm, và
  • Phụ thuộc thành phần khoáng của phối liệu (thí dụ Na2O cho vào ở dạng Na2CO3 thì men có nhiệt độ thấp và hoạt tính cao hơn là cho vào dưới dạng trường thạch).

Với mỗi loại men khác nhau được nung ở nhiệt độ khác nhau, nhưng thường từ 800độ đến 1200 độ

Các cách phân loại men gốm khác

Ngoài ra, người ta còn phân loại men gốm dựa trên thành phần nguyên liệu, phương pháp sản xuất, nhiệt độ nung và đặc điểm bề ngoài của men:

  • Các thành phần khác nhau. Nó có thể được chia thành men xám, men vôi, men fenspat, men chì-bo…
  • Các phương pháp sản xuất khác nhau. Nó có thể được chia thành men thô, men frit và men kết tinh;
  • Các đặc điểm ngoại hình khác nhau. Nó có thể được chia thành men trong suốt, men chảy, men màu, men pha lê, men rạn, men mờ…
  • Theo nhiệt độ nung, nó có thể được chia thành men nhiệt độ cao và men nhiệt độ thấp.

Bài viết trên Sàn Gốm đã giải thích cho bạn hiểu men gốm là gì và các loại men gốm. Hy vọng những thông tin này sẽ hữu ích cho bạn đọc!

đồ thờ bát tràng
Question and answer (0 comments)